This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2000

Nanocapsule

Nhờ ứng dụng công nghệ này, người ta có thể bào chế ra nhiều loại thuốc trên cơ sở cấu trúc nano để có thể tập trung chính xác vào khu vực cơ thể cần dùng đến thuốc.

Thế nào là nanocapsule?

Vi nang nano (nanocapsule - NC) là một loại vi hạt có kích cỡ nanomet được bao bọc bên ngoài bởi những loại polymer không độc tính. Bên trong là một lõi chất lỏng chứa những thành phần quan trọng (như thuốc chẳng hạn).

NC có rất nhiều ứng dụng, trong đó triển vọng nhất là trong các hệ thống đưa thuốc đến đích tác động. Khi được nạp vào NC, các độc tính toàn thân có liên quan đến thuốc sẽ giảm đi rất nhiều, đồng thời sự tập trung thuốc ở vị trí trị liệu cũng tăng lên. Quá trình vi nang hoá sẽ làm tăng hiệu lực, tính đặc hiệu và khả năng hướng đích của thuốc. NC giúp bảo vệ phân tử thuốc khỏi bị phân huỷ quá sớm trong môi trường sinh học nên sẽ làm tăng sinh khả dụng và kéo dài sự hiện diện của thuốc trong máu nhằm tạo điều kiện cho thuốc được hấp thu hiệu quả vào bên trong tế bào. Các NC có thể sẽ nhanh chóng bị thanh thải ra khỏi cơ thể bởi hệ thống thực bào đơn nhân (mononuclear phagocytic system - MPS). MPS sẽ nhận diện NC là các cấu tử ngoại lai và nhanh chóng loại bỏ chúng ra khỏi hệ tuần hoàn. Tuy nhiên, bề mặt của các NC có thể được biến đổi để ngăn cản quá trình thực bào xảy ra. Ngoài ra, sự biến đổi bề mặt của các NC cũng làm tăng khả năng chọn lọc và phân phối thuốc đến đích tác động. Các bề mặt này có thể được gắn với những phân tử đánh dấu hoặc các polymer thân nước. Việc thiết kế nên các NC có xét đến đích tác động và đường dùng thuốc sẽ giải quyết được những vấn đề mà bản thân phân tử thuốc trị liệu gặp phải.

Có rất nhiều phương pháp tổng hợp NC. Những phương pháp được lựa chọn phụ thuộc vào cấu trúc hoá học của tác nhân trị liệu, loại ứng dụng và thời gian cần để lưu lại bên trong cơ thể.

Ống nano carbon với những ứng dụng tiềm năng trong bào chế dược phẩm.

Ống nano carbon với những ứng dụng tiềm năng trong bào chế dược phẩm.

Một số loại vi nang nano trong công nghệ bào chế dược phẩm

Liposome: Đây là những túi nhỏ hình cầu có lớp màng kép chứa phospholipid bao bọc bên ngoài. Dạng NC này được sử dụng rất phổ biến trong các hệ thống đưa thuốc cũng như phân phối gene trị liệu. Liposome giúp bảo vệ các tác nhân trị liệu tránh phân huỷ và đưa được chúng đến vị trí tác động. Ngoài ra, liposome còn dễ dàng được gắn với các phân tử đánh dấu để có thể phân phối thuốc hướng đích. Liposome được tổng hợp từ các lipid mang điện hoặc trung tính bằng một số phương pháp vi nang hoá như ép đùn màng polycarbonate, đồng hoá dưới áp suất cao, bốc hơi pha đảo, sử dụng siêu âm hay ép đùn thuỷ hoá màng lipid sử dụng sóng siêu âm. Hiện tại có rất nhiều loại thuốc khác nhau được vi nang hoá tạo ra dạng NC liposome bao gồm các thuốc kháng ung thư như methotrexate, doxorubicin, N-butyldeoxynojirimycin; ciproflaxacin, clotrimazole, tretinoin.

Micelle trùng hợp: Micelle trùng hợp hay micelle polymer (polymeric micelle) được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu nhằm tạo ra những chất mang thuốc có cấu trúc nano do chúng có kích thước nhỏ và độ ổn định cao. Các micelle được phân làm 3 loại gồm: thân nước, thân dầu và phức hợp polyion. Chúng được điều chế bằng một số kỹ thuật thông dụng như tách dung môi, thẩm phân, đúc khuôn dung dịch (solution casting). Một số tác nhân trị liệu đã được vi nang hoá bằng phương pháp này để làm tăng độ tan và tác dụng điều trị, bao gồm doxorubicin (micelle pluronic), paclitaxel, camptothecin, oxaliplatin, β-lapachone, amphotericin B, geldanamycin, andriamycin, cyclosporin A, rapamycin và một số dạng chế phẩm chứa gene vi khuẩn.

Ống nano carbon: Ống nano carbon (carbon nanotube - CNT) là một loại phiến graphite được cuộn lại thành khối hình trụ có các mạng lưới liên kết đặc trưng. CNT với kích thước cỡ nano được ứng dụng rộng rãi trong các ngành công nghiệp sử dụng công nghệ nano mà gần đây nhất là công nghệ bào chế dược phẩm. CNT được tổng hợp bởi nhiều phương pháp bao gồm: phóng điện hồ quang, cắt bằng laser, phản ứng tự oxy hoá khử carbon monoxide, ngưng tụ hơi và phương pháp thuỷ nhiệt. Hiện tại, có nhiều loại thuốc khác nhau có thể được vi nang hoá bên trong cấu trúc rỗng hoặc trong các khoang của CNT để làm tăng hiệu lực tác dụng và tăng độ tan như acid folic, doxorubicin, paclitaxel, 10-hydroxycamptothecin, carboplatin.

Dendrimer: Dendrimer là một loại đại phân tử polymer có nhiều nhánh, đối xứng và dạng cầu 3 chiều với các hạt có cùng kích cỡ và phân tử lượng được xác định rõ. Trong các hệ thống đưa thuốc, dendrimer có thể được sử dụng để vi nang hoá các tác nhân trị liệu vào bên trong cấu trúc hoặc liên hợp với chúng trên bề mặt. Dendrimer có chứa 3 thành phần cơ bản bao gồm lõi, nhánh và các thành phần bề mặt. Chúng được điều chế bằng hai phương pháp cơ bản là phân kỳ và hội tụ, ngoài ra, còn có thêm một phương pháp khác là phương pháp hội tụ giai đoạn kép. Những loại thuốc được vi nang hoá sử dụng dendrimer bao gồm doxorubicin, paclitaxel, 10-hydroxy camptothecin, 7-butyl-10-aminocamptothecin, flurbiprofen, ibuprofen.

Tiểu phân nano từ tính

Các tiểu phân nano từ tính (magnetic nanoparticles - MNP) đã được các nhà khoa học quan tâm rất nhiều trong 2 thập kỷ qua trong các lĩnh vực lưu trữ dữ liệu và y sinh học. Bề mặt từ tính của các MNP cho phép chúng có thể gắn kết và truyền từ tính cho các phân tử chức năng. Điều này có thể giúp lôi kéo và vận chuyển các phân tử này đến cơ quan đích mong muốn bằng cách điều chỉnh từ trường sinh ra. Mỗi MNP được cấu tạo gồm 3 phần: lõi từ, lớp phủ bề mặt và lớp chức năng bên ngoài. Những tác nhân trị liệu được áp dụng phương pháp này để tạo ra các dạng chế phẩm hướng đích bao gồm doxorubicin, 5-FU, curcumin và methotrexate.

DS. Trần Thái Sơn

Viêm ruột hoại tử cấp tính ở trẻ em và cách phòng ngừa

Trẻ bị viêm ruột hoại tử có thể bị các biến chứng như: thủng ruột, viêm phúc mạc, tắc ruột dẫn đến tử vong.

Viêm ruột hoại tử là một cấp cứu nội khoa và ngoại khoa đường tiêu hóa thường gặp nhất ở trẻ sơ sinh non tháng. Ngay với trẻ sinh đủ tháng cũng có thể mắc bệnh này nhưng tỷ lệ ít hơn. Bệnh viêm ruột hoại tử cấp tính ở trẻ em gặp nhiều vào mùa hè và mùa thu. Các dấu hiệu của bệnh là:

Đau bụng: Trẻ mắc bệnh mới đầu đau bụng nhẹ, sau đó nặng dần và kéo dài, dữ dội từng cơn. Thường đau ở quanh rốn hoặc vùng bụng trên.

Nôn: Sau khi xuất hiện đau bụng khá lâu, trẻ có thể buồn nôn. Thứ nôn ra là chất hòa tan trong dạ dày, có thể chứa mật gan, nặng có thể nôn ra chất giống màu như cafe.

Dấu hiệu vùng bụng: Vùng bụng của trẻ mắc bệnh thời kỳ đầu mức nhẹ là trướng hơi, mềm, có thể đau nhẹ, nhưng không có điểm đau nhất định. Cùng với trướng bụng, sau đó có thể xuất hiện điểm đau nhất định. Lớp cơ thành ruột thời kỳ cuối hoại tử chảy máu, chức năng vận động đường ruột trở ngại dẫn đến ruột tê liệt, tiếng kêu của ruột giảm hoặc mất hẳn. Khi ruột hoại tử mạnh hơn hoặc ruột thủng lỗ, xuất hiện triệu chứng viêm màng bụng, lúc đó đau bụng dữ dội, trướng bụng rõ rệt, cơ bụng tăng, đau ép và đau quặn người, đây là dấu hiệu bệnh rất nặng.

Đi ngoài và đại tiện ra máu: Sau khi đau bụng khá lâu, xuất hiện đi ngoài, phân loãng màu vàng hoặc giống canh trứng, số lần không ổn định. Sau đó niêm mạc chảy máu, hoại tử chuyển thành phân có máu, có màu đỏ sẫm dạng sánh hoặc dạng canh màu đỗ đỏ, có khi có chất hoại tử màu trắng xám, mùi hôi, rất tanh, có thể có ít dịch nhờn, không mủ. Nếu bệnh nhẹ, niêm mạc ruột hoại tử chảy máu ít, vì thế phân không thấy có máu, nhưng phân tích máu ẩn trong phân cho thấy dương tính cao.

Mất nước và mất máu: Khi bệnh tiến triển nặng dần, thường phát sinh mất nước, dung lượng máu giảm, natri thấp, kali thấp và trúng độc axit, khiến bệnh nguy hiểm hơn.

Triệu chứng nhiễm độc trong máu: Do sự hấp thụ của thành ruột hoại tử và chất độc, đa số trẻ em mắc bệnh ban đầu bị sốt, tinh thần sa sút bất an hoặc thèm ngủ, sắc mặt nhợt nhạt. Bệnh nặng lên nhanh chóng, thường từ 1-2 ngày sau khi phát bệnh, xuất hiện triệu chứng độc trong máu nghiêm trọng và ngất, nếu không kịp thời cấp cứu người bệnh rất nhanh tử vong.

Các yếu tố và nguyên nhân gây bệnh

Nhiều yếu tố như thiếu máu cục bộ đường tiêu hóa hoặc tổn thương tái tưới máu, yếu tố nhiễm trùng. Có bằng chứng về sự phát tán vi khuẩn vào máu gây nên triệu chứng toàn thể. Biểu hiện ban đầu không đặc hiệu. Biểu hiện về sau nằm trong bối cảnh bệnh nặng giống nhiễm trùng và hội chứng đáp ứng viêm hệ thống. Viêm ruột hoại tử sơ sinh thường gặp ở trẻ non tháng, cân nặng thấp. Bệnh liên quan tới nhiều vấn đề: nuôi dưỡng đường ruột; trẻ suy hô hấp kéo dài, giảm lưu lượng máu ở hệ thống tạng (ngạt, đa hồng cầu), trong bệnh nhiễm trùng, bệnh tim bẩm sinh, bất thường chuyển hóa hoặc có quá trình phát triển bào thai bất thường.

Bệnh xảy ra như thế nào?

Viêm ruột hoại tử là một bệnh đường ruột cấp tính, nó có thể phá hủy các mô của niêm mạc ruột. Khi trẻ non tháng sinh ra, cơ thể yếu, các cơ quan có thể chưa hoàn thiện, do vậy trẻ dễ bị suy hô hấp sau sinh. Cho trẻ ăn sữa ngoài không đúng cách, số lượng sữa tăng nhanh, vi khuẩn hoặc các virut xâm nhập vào đường ruột tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp gây bệnh, tổn thương thường khu trú ở ruột non nhất là đoạn hỗng tràng. Tổn thương có thể từ vài centimét đến suốt cả chiều dài ruột non. Tổn thương vi thể dưới dạng phù nề, xuất huyết, hoại tử, có thâm nhập bạch cầu đa nhân. Dẫn đến các biến chứng: thủng ruột, viêm phúc mạc, tắc ruột.

Thông thường, bệnh xuất hiện khi trẻ đang được cho ăn qua đường miệng với tiến triển tốt. Biểu hiện ban đầu hay gặp nhất là sự kém dung nạp thức ăn, trẻ có những biểu hiện khác thường. Ứ trệ dịch dạ dày là triệu chứng sớm. Tuy nhiên, đôi khi bệnh cũng khởi phát rầm rộ, đột ngột bằng dấu hiệu suy sụp tuần hoàn.

Dấu hiệu điển hình: triệu chứng tiêu hóa và toàn thân nặng. Triệu chứng tiêu hóa: ọc sữa, tiêu phân đen, vàng da, bụng trướng. Triệu chứng toàn thân: trẻ lờ đờ bỏ bú, suy kiệt. Trong trường hợp bệnh nặng có thể có xuất huyết dưới da.

Chẩn đoán viêm ruột hoại tử ở trẻ dựa vào chất nôn, dịch dạ dày và phân của trẻ. Trẻ bị viêm ruột hoại tử sẽ được nuôi dưỡng tĩnh mạch hoàn toàn, theo dõi lâm sàng bằng hút dịch dạ dày, nếu dịch dạ dày trong sẽ bắt đầu tập cho ăn trở lại với tốc độ không được vượt quá 20ml/kg/ngày. Khi nghi ngờ mắc bệnh này phải ngừng cho trẻ ăn, đồng thời nhanh chóng đưa bệnh nhân tới bệnh viện chữa trị. Khi cần có thể xem xét tới phương pháp phẫu thuật ngoại khoa, cắt bỏ đoạn ruột bị bệnh, cứu tính mạng của trẻ.

Biện pháp dự phòng

Cần có chiến lược cụ thể về điều trị và chăm sóc chu đáo, nhằm giúp cho thai nhi trong thời gian ở trong bụng mẹ có sức khỏe tốt và phát triển phù hợp với từng giai đoạn bào thai, tránh để xảy ra tình trạng sinh non tháng.

Bé sinh ra dù nhẹ cân, thiếu tháng hay đủ tháng nhất thiết phải được bú sữa mẹ ngay những giờ đầu sau sinh, khuyến khích các bà mẹ cách cho con bú sữa mẹ hoàn toàn ngày - đêm. Để có được nguồn sữa mẹ dồi dào, các bà mẹ cần ăn đầy đủ dinh dưỡng, chú trọng nhất là chất đạm ăn tăng hơn 60% so với bữa ăn hàng ngày về đạm, đồng thời phải được nghỉ ngơi, ngủ đủ giấc. Khi mẹ ngủ, đó là lúc thời gian các tuyến sữa tiết sữa nhiều nhất.

Để phòng bệnh viêm ruột hoại tử cho trẻ cần giảm tối đa các nguy cơ khác liên quan đến sản khoa: sinh ngạt, suy hô hấp sau sinh. Cho trẻ bú sữa mẹ sớm vì sữa mẹ là sữa duy nhất làm giảm nguy cơ viêm ruột hoại tử nhất là trẻ đẻ non tháng. Cho trẻ đẻ non ăn từ từ từng bữa lượng nhỏ điều chỉnh tốt thời gian và số lượng cho bữa ăn tăng dần không quá 20ml/kg/ngày.

BS. Lê Anh

Điều trị nấm móng như thế nào cho đúng cách?

Vậy tôi xin hỏi, nguyên nhân, triệu chứng và điều trị như thế nào cho là đúng cách?

(Thanh Tiến - Tiền Giang)

Bệnh nấm móng, ngày nay vẫn còn là vấn đề y khoa phổ biến, là bệnh mãn tính với nhiều biểu hiện khác nhau và lây trực tiếp từ móng này sang móng khác, từ người này sang người khác, điều trị thường kéo dài và dễ tái phát.

Điều trị nấm móng như thế nào cho đúng cách?Ảnh minh họa

Về nguyên nhân và biểu hiện của bệnh thường đa dạng và phức tạp, vì nguyên nhân gây ra với nhiều loại nấm khác nhau, như nấm dermatophyte, nấm Candida, nấm mốc có tên khoa học là Seopulariopsis và Hendersonula. Ở giai đoạn sớm bệnh thường nhẹ; nếu để lâu sẽ tổn thương móng sẽ trầm trọng hơn và thường bệnh không tự khỏi, có thể tồn tại hàng chục năm, lây lan từ móng này sang móng khác, nếu để lâu sẽ lan hết các móng kể cả móng tay và móng chân. Nếu nhiễm ở phần bên và phần xa dưới móng là dạng phổ biến nhất gây loạn dưỡng móng, thường do vi nấm dermatophyte, đôi khi cũng nhiễm thêm nấm mốc thứ phát. Nếu tổn thương trắng trên bề mặt móng là dạng đặc trưng của nhiễm dermatophyte do Trichophyton mentagrophytes. Nếu nhiễm ở phần gốc dưới móng mà xuất phát từ phần gần của móng và thường là thứ phát của viêm quanh móng mãn tính là do vi nấm hẹt men Candida. Trường hợp loạn dưỡng toàn móng là một dạng biểu hiện loạn dưỡng móng sau cùng với tổn thương toàn bộ móng, là hậu quả của nhiễm các dạng nấm đã nêu trên.

Về điều trị, trước kia còn gặp nhiều khó khăn, nhưng ngày nay nhờ những tiến bộ của y học, nên nấm móng đã không còn là vấn để khó khăn nữa. Việc điều trị nhất thiết phải điều trị đúng cách tức là tuân thủ điều trị theo phác đồ, tức là điều trị đúng thuốc và đủ thời gian. Thuốc dùng hiện nay là Itraconazole với tên thương mại là Canditral, Sporal, uống với phác đồ, áp dụng cho người đã trưởng thành uống với liều 200mg x 2 lần trong ngày, uống trong tuần, nghỉ 3 tuần, sau đó lặp lại 1 tuần như trên, nếu là nấm móng tay, nếu là móng chân thì lặp lại thêm đợt tiếp theo, tức là 2 đợt cho móng tay và 3 đợt cho móng chân.

Về điều trị tại chỗ, cần loại bỏ phần móng nhiễm bệnh bằng cách cắt hoặc cạo, sau đó dùng thuốc bôi tại chỗ cho đến khi móng mọc trở lại, thuốc thoa thường dùng hiện nay là Clortrimazole với tên thương mại là Canesten, Candid hay Terbinafine HCl với tên thương mại là Lamisil, Hifen Cream. Ngoài thuốc thoa tại chỗ, thuốc uống là không thể thiếu được, quyết định cho sự lành bệnh. Sau thời gian điều trị đúng thuốc đủ phát đồ thì bệnh sẽ lành, tuy nhiên vì là móng nên phải có thời gian móng mọc ra và phát triển từ từ thường là sau 3 - 6 tháng điều trị mới nhận thấy hiệu quả điều trị.

BS.CKI.TRẦN QUỐC LONG

Tuân thủ điều trị bằng thuốc, thay đổi lối sống để phòng các bệnh lý tim mạch

Theo thống kê năm 2002 chỉ có 2,7 % bệnh nhân Đái tháo đường tuýp 2 đến năm 2012 lên đến 5,4% theo ước lượng được Hội tim mạch và Hội đái tháo đường đưa ra. Nhưng THA tăng hơn nhiều, hiện nay chúng ta có tối thiểu là 30% người trưởng thành THA, và thực tế cứ 3 người thì có 1 người THA.

GS. Tuấn cũng nhấn mạnh, tuy nhiên những số liệu như trên đã cũ, bởi theo khuyến cáo của Hội Tim mạch Hoa Kỳ mới đưa ra năm 2017 về phòng ngừa, phát hiện, đánh giá và điều trị tăng huyết áp thì tỷ lệ người THA còn tăng hơn nhiều.

Nếu như trước đây con số 140/90 là mốc để chẩn đoán tăng huyết áp được Ủy ban liên hiệp quốc gia Hoa Kì khuyến cáo từ năm 1988 (JNC IV) đã được duy trì trong suốt thời gian qua. Thì hiện nay theo khuyến cáo mới mức THA hiện nay là 130/80. Theo đó, ở Hoa Kỳ hơn 30% người trưởng thành 20 tuổi trở lên THA với mức là 140/90mm, nhưng nếu mức mới là 130/80 thì Hoa Kỳ có 46% người trưởng thành THA, như vậy thay đổi mức của THA làm tăng 144% số người mắc THA và tỷ lệ tương tự Việt Nam chúng ta có 45% người trưởng thành THA .

“Đây là một con số khủng khiếp, tất cả những con số THA đều có yếu tố nguy cơ quan trọng suy tim giai đoạn cuối, bệnh tim mạch chuyển hóa”, GS.Tuấn nói.

Ăn uống lành mạnh, tập luyện thưỡng xuyên để phòng tránh các bệnh lý tim mạch

Suy tim là hậu quả cuối cùng của một loạt bệnh lý như tăng huyết áp, đái tháo đường, bệnh lý mạch vành, bệnh nhân thường kèm theo bệnh phức tạp khác như COPD, các bệnh lý lây nhiễm, bệnh van tim do thấp...

Theo đó, các chuyên gia tim mạch cũng nhấn mạnh vai trò của các biện pháp không dùng thuốc như giảm cân nặng, chế độ ăn lành mạnh, giảm muối, tăng cung cấp kali, tăng hoạt động thể lực và uống rượu mức độ vừa phải.

Thay đổi lối sống là biện pháp được ưu tiên hàng đầu. Các đích điều trị thay đổi, huyết áp mục tiêu của các nhóm bệnh nhân như đái tháo đường, suy tim, suy thận… đều là <130/80 mmHg. Điều này đồng nghĩa với việc các bệnh nhân cần phải tăng tuân thủ điều trị bằng thuốc và tích cực thay đổi lối sống hơn nữa. Vì vậy, để phòng tránh tăng huyết áp, hãy ăn uống lành mạnh và tập luyện thường xuyên ngay hôm nay.

Trước đó, tại chương trình đào tạo liên tục về suy tim và quản lý bệnh nhân suy tim, PGS.TS Phạm Mạnh Hùng Viện trưởng Viện Tim mạch VN – Tổng thư ký Hội Tim mạch học VN cũng cho biết, độ tuổi suy tim hiện nay có xu hướng thấp hơn các nước đang phát triển, suy tim xảy ra ở bất kỳ tuổi nào, thậm chí từ khi sinh ra nếu không điều trị dễ dẫn đến bệnh lý nặng hơn. Thông thường bệnh nhân suy tim nhập viện khá muộn, chỉ khi khó thở tưởng như không thở được họ mới chịu đi khám....Mặc dù đã có nhiều tiến bộ trong điều trị suy tim nhưng theo PGS. Hùng, đây vẫn là một bệnh tiến triển với bệnh suất và tử suất cao. Dự báo số lượng bệnh nhân suy tim sẽ còn tiếp tục tăng do tuổi thọ người dân ngày càng cao; tăng các yếu tố nguy cơ và số bệnh nhân sống sót sau can thiệp mạch vành tăng.

Suy tim hiện vẫn đang là gánh nặng toàn cầu (với 1-2% dân số thế giới bị suy tim – tương đương khoảng 26 triệu người mắc bệnh); tỉ lệ mắc suy tim tăng theo tuổi ở cả hai giới. Riêng khu vực Đông Nam Á có tỉ lệ suy tim cao do đây là khu vực đa dạng về văn hóa xã hội và lịch sử độc đáo và do là khu vực có tốc độ phát triển dân số nhanh, lên tới >600 triệu người, phần đông là dưới 65 tuổi. Ở VN, tuy chưa có thống kê chính thức nhưng ước tính có khoảng 320.000 đến 1,6 triệu người mắc bệnh suy tim, ước tính 1-1.5% dân số.

PV

5 cách giúp tăng cường trí nhớ

Trí nhớ có vai trò rất quan trọng trong đời sống tâm lý của con người, là điều kiện để con người lưu giữ kỷ niệm, tích lũy kinh nghiệm sống và sử dụng chúng tốt hơn trong mọi hoạt động. Nhưng trí nhớ lại giảm dần theo tuổi. Tuy nhiên, vẫn còn có những biện pháp có thể giúp duy trì và tăng cường trí nhớ nếu biết áp dụng và luyện tập thường xuyên…

Chế độ ăn

Não cũng giống như cơ thể cần nhiên liệu để hoạt động. Do vậy, việc sử dụng các thực phẩm phù hợp và tránh những cách dùng thực phẩm sai lầm có thể là chiến lược hiệu quả để cung cấp đủ nhiên liệu cho não. Chế độ ăn uống Địa Trung Hải được xếp là một trong những chế độ ăn uống lành mạnh nhất hành tinh. Nó dựa trên lượng trái cây, rau, ngũ cốc nguyên hạt, đậu, chất béo lành mạnh - chẳng hạn như dầu ôliu, các loại hạt, cá và protein nạc. Nhiều nghiên cứu tại Mỹ chỉ ra rằng, chế độ ăn uống Địa Trung Hải ngăn ngừa các bệnh mạn tính nguy hiểm và kéo dài tuổi thọ. Nó cũng được chứng minh có tác dụng tích cực, lâu dài để bảo vệ trí nhớ, khả năng học tập cũng như chống suy giảm nhận thức. Bên cạnh đó, chế độ ăn Ketogenic cũng được chú ý khi nó làm giảm đáng kể lượng carbohydrate và thay thế bằng chất béo khiến cơ thể chuyển sang trạng thái chuyển hóa được gọi là ketosis. Ketosis làm tăng hiệu quả của cơ thể trong việc đốt chất béo cho năng lượng và tạo ra xeton từ chất béo trong gan, cung cấp năng lượng cho não.

Một số loại thực phẩm cũng đã được các nhà nghiên cứu trên khắp thế giới ca ngợi là chất làm tăng trí nhớ như quả óc chó, cải xoăn, rau bina, cacao và socola, quế, trà hoa cúc, quả việt quất…

Thực hiện chế độ ăn Địa Trung Hải giúp tăng cường trí nhớ.

Thực hiện chế độ ăn Địa Trung Hải giúp tăng cường trí nhớ.

Vận động cơ thể

Tập thể dục làm tăng lượng ôxy và hiệu quả các chất hữu ích trong não, giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch và tiểu đường, một trong những nguyên nhân dẫn đến mất trí nhớ, đồng thời làm giảm các hormone gây căng thẳng. Trong một phân tích điều tra sức khỏe của não ở người trên 50 tuổi, các nhà nghiên cứu của Mỹ nhận thấy rằng, tập aerobic cải thiện khả năng nhận thức, tăng cường trí não. Nguyên nhân là do một số hormon đặc biệt tăng lên trong quá trình tập luyện, được gọi là yếu tố tăng trưởng, giúp cải thiện trí nhớ thông qua vùng hồi hải mã Hippocampus, vùng não phụ tách học tập và ghi nhớ. Ngoài aerobic, cưỡi ngựa đã được chứng minh là cải thiện khả năng nhận thức của trẻ và múa có thể làm đảo ngược các dấu hiệu lão hóa của não do tuổi tác.

Ngủ trưa

Giấc ngủ có thể là một cách dễ dàng để cải thiện và duy trì trí nhớ. Một nghiên cứu được thực hiện tại Mỹ với những người tham gia ngủ giữa các buổi học và không ngủ. Kết quả cho thấy, những người ngủ trưa có thể nhớ 10 đến 16 từ trong bài kiểm tra trí nhớ, trong khi những người không ngủ chỉ nhớ lại 7,5 từ. Các nghiên cứu khác cũng cho thấy ở người lớn từ 65 tuổi trở lên, ngủ trưa một giờ đồng hồ cải thiện hiệu quả của các bài kiểm tra nhận thức so với những người không ngủ trưa.

Những người ngủ trưa ngắn hơn hoặc lâu hơn hoặc những người không ngủ trưa có sự suy giảm khả năng nhận thức khoảng 5 năm so với tuổi thật của họ. Do vậy, để giúp duy trì khả năng ghi nhớ và hoạt động của não, mỗi người nên duy trì tốt số giờ ngủ hàng ngày, tốt nhất nên có giấc ngủ ngắn vào buổi trưa.

Luyện tập não

Có những kỹ thuật có thể sử dụng để giúp bạn học cách mã hóa và ghi nhớ thông tin quan trọng. Chúng được gọi là các phương sách giúp trí nhớ. Các phương pháp ghi nhớ bao gồm phương pháp về địa điểm, đòi hỏi bạn phải tưởng tượng các mục muốn ghi nhớ dọc theo một con đường quen thuộc, liên kết các từ hoặc khái niệm với một trong các vị trí trên đường để làm cho chúng dễ nhớ hơn. Bên cạnh đó, từ viết tắt có thể được sử dụng như một công cụ để ghi nhớ bất cứ thứ gì từ màu sắc của cầu vồng đến các mục trong danh sách mua sắm. Chẳng hạn, bạn có thể sử dụng từ viết tắt “CAKE” để giúp bạn nhớ rằng bạn cần phải mua phô mai (Cheese), táo (Apple), cải xoăn (Kale) và trứng (Egg) từ siêu thị. Nhịp điệu cũng là một biện pháp giúp ghi nhớ tốt như nhịp của một bài thơ hay bài hát. Chunking là một cách để chia nhỏ các thông tin lớn thành những phần nhỏ hơn, dễ quản lý hơn, chẳng hạn như chia các số điện thoại thành ba phần thay vì cố gắng nhớ tất cả 10 chữ số riêng biệt. Hình ảnh có thể giúp ghi nhớ các cặp từ, chẳng hạn như nước xanh, ánh nắng vàng và cỏ xanh. Bằng cách nhớ lại một hình ảnh cụ thể, nó có thể giúp nhớ lại thông tin mà chúng ta liên kết với hình ảnh đó.

Vui vẻ và thư giãn

Căng thẳng mạn tính có ảnh hưởng bất lợi lên não. Theo thời gian, căng thẳng tiêu diệt các tế bào não, gây tổn thương vùng Hippocampus và liên quan đến mất trí nhớ. Do đó, quản lý căng thẳng có thể là một trong những cách tốt nhất để bảo vệ trí nhớ của bạn. Thiền và nghe nhạc có thể là các chiến lược hiệu quả để giảm bớt căng thẳng và làm giảm mất trí nhớ sớm ở người cao tuổi bị suy giảm nhận thức. Trong một nghiên cứu tại Mỹ, thiền và nghe nhạc trong thời gian 3 tháng cải thiện đáng kể chức năng bộ nhớ chủ quan và hiệu suất nhận thức khách quan. Chỉ cần 25 phút thiền và nghe nhạc mỗi ngày đã được chứng minh là có ảnh hưởng tích cực đến tâm trạng và tăng cường chức năng não cũng như khả năng nhận thức.

Bên cạnh đó, một số sở thích đặc biệt như chụp ảnh, thư giãn với hương thơm… cũng có thể giúp cải thiện trí nhớ. Môt nghiên cứu thực hiện tại Mỹ với những đứa trẻ tham gia vào một trò chơi ghi nhớ ở trong hai phòng khác nhau. Kết quả cho thấy, những đứa trẻ ở trong phòng có hương hoa lan đạt điểm số cao hơn đáng kể so với trẻ em ở trong căn phòng không mùi vị.

Lê Mỹ Giang

(Theo medicalnewstoday)

Nguyên nhân gây hở van tim

Xin hỏi bác sĩ cháu có nhất thiết phải thay van tim? Thời niên thiếu cháu hay viêm amidan, liệu đây có phải là nguyên nhân gây bệnh tim?

Nguyễn Quỳnh Hương (quynh huong@gmail.com)

Những tổn thương hẹp hở van tim là di chứng, là hậu quả của viêm nội tâm mạc trong thấp tim cấp tính nên y học gọi là bệnh van tim hậu thấp. Đây là bệnh van tim mắc phải, xảy ra sau viêm họng, amidan do liên cầu khuẩn beta tan máu nhóm A. Đặc điểm của các van tim là do lớp nội tâm mạc (màng mỏng bao phủ toàn bộ mặt trong buồng tim và các lá van) khi bị viêm gây sưng nề trong các đợt cấp và sau nhiều lần tái đi tái lại làm cho các lá van và dây chằng xù xì, xơ, dày cứng dính nhau nên khi tim cần đóng kín van thì các lá van không khép kín gọi là hở van tim. Trên lâm sàng có thể gặp chỉ hẹp hoặc hở van đơn thuần nhưng nhiều khi do van có nhiều biến đổi cấu trúc nên bị phối hợp cả hẹp và hở. Hậu quả của hẹp, hở van tim là suy tim. Bệnh của cháu đã được chẩn đoán hở van mà tiền sử thời niên thiếu cháu có viêm họng, amidan mà không điều trị triệt để. Vấn đề là ngay bây giờ cháu phải đi khám tại trung tâm tim mạch hoặc Viện Tim mạch Quốc gia để điều trị tích cực, nếu để muộn sẽ dẫn đến biến chứng suy tim. Hiện nay, bệnh van tim hoàn toàn có thể chữa khỏi, tùy trường hợp tổn thương mà bác sĩ sẽ quyết định mổ kín, vá van hay mổ hở có máy tim phổi nhân tạo nhằm thay van cơ học hay sinh học.

BS. Trần Kim Anh

Cảnh báo biến chứng xơ gan do viêm gan virus

Tưởng virus nằm yên không ngờ tiến đến xơ gan

Anh Nguyễn Huy C (Hà Nội) vốn là một giáo viên dạy Tiếng Anh, thế nhưng vừa rồi anh phải nghỉ dạy hè để nhập viện điều trị, vì viêm gan virus đã có biến chứng chớm xơ gan. Trước đây, anh C. bị viêm gan virus B thể không hoạt động. Thấy bác sĩ không kê đơn thuốc, mà chỉ dặn dò thực hiện chế độ ăn uống sinh hoạt hợp lý, nên anh nghĩ chắc không nghiêm trọng, không cần khám lại. Không ngờ, bẵng đi một thời gian, anh thấy mệt mỏi, chán ăn, đi khám thì phát hiện nồng độ virus đã lên tới 10^6 và đã bị chớm xơ gan.

Còn cô Nguyễn Thị Nh (Hà Tĩnh), trước đây bị viêm gan virus B và đã điều trị virus viêm gan về dưới ngưỡng phát hiện. Nhưng mới đây, cô có nhiều triệu chứng như mệt mỏi, chán ăn... Chỉ đến khi đi khám mới hay virus hoạt động trở lại và gây xơ gan. Nguyên nhân chủ yếu do cô lao động quá sức, sinh hoạt thiếu điều độ.

Viêm gan virus B có thể biến chứng thành bệnh xơ gan nguy hiểm (ảnh minh họa)

Theo phân tích của GS.TS.TTND. Nguyễn Văn Mùi (Chuyên gia đầu ngành truyền nhiễm) cho hay: khi phát hiện bị viêm gan b thể không hoạt động hoặc đã điều trị virus viêm gan về dưới ngưỡng phát hiện, nhiều người thường chủ quan vì nghĩ rằng sẽ không gây nguy hiểm cho gan, không ảnh hưởng sức khỏe. Trên thực tế, virus viêm gan có thể bùng phát trở lại bất kì lúc nào, khi có sự kích thích từ tác nhân gây hại bên ngoài hoặc hệ miễn dịch suy yếu. Khi virus đã bùng phát trở lại, nó có thể làm bệnh viêm gan trở nên trầm trọng hơn và có thể dẫn đến những biến chứng nguy hiểm như xơ gan, ung thư gan...

Chính vì vậy, những người bị viêm gan virus dù là thể không hoạt động hoặc đã điều trị virus về dưới ngưỡng phát hiện cũng không được chủ quan, đề phòng nguy cơ virus tái hoạt động trở lại gây suy giảm chức năng gan hoặc các biến chứng nguy hiểm.

Giải pháp toàn diện ngăn ngừa biến chứng xơ gan

Theo GS.TS. Nguyễn Văn Mùi: “Đối với viêm gan virus thể hoạt động, cần tuân thủ phác đồ điều trị để ức chế virus, kết hợp sử dụng các sản phẩm thảo dược như cà gai leo để chống viêm, chống xơ gan. Đối với những trường hợp virus không hoạt động hoặc về dưới ngưỡng phát hiện, phải theo dõi thường xuyên, cũng như sử dụng các biện pháp ức chế virus, tăng cường chức năng gan từ cà gai leo”.

Cây cà gai leo được chứng minh giúp ức chế virus viêm gan, chống xơ gan

Các nghiên cứu khoa học đã chứng minh, cà gai leo là dược liệu quan trọng trong hỗ trợ điều trị viêm gan virus, ức chế virus và bảo vệ gan khỏi xơ hóa. Tuy nhiên, giữa thiên biến vạn hóa của nguồn dược liệu, người bệnh cần chọn mua sản phẩm được sản xuất từ nguồn nguyên liệu sạch đúng chuẩn mới mang lại hiệu quả cao.

Theo ThS. Đào Quang Trung (chuyên gia độc lập về tiêu chuẩn GACP) cho hay: cà gai leo nếu không trồng đúng chuẩn có thể dẫn đến tình trạng lai tạp, hàm lượng hoạt chất không cao, tồn dư đạm, thuốc trừ sâu, hóa chất độc hại do quá trình chăm bón, khi dùng không những không có tác dụng chữa bệnh, mà còn đặc biệt nguy hiểm cho lá gan đối với những người bị viêm gan virus... Do đó, việc triển khai chuẩn hóa vùng trồng cà gai leo theo tiêu chuẩn GACP (Thực hành tốt trồng trọt và thu hái cây thuốc của Tổ chức Y tế Thế giới) là rất cần thiết.

Dấu hiệu nào để nhận biết sản phẩm từ cà gai leo sạch

Ở nước ta, việc trồng dược liệu áp dụng theo tiêu chuẩn dược liệu sạch đòi hỏi phải tuân thủ những quy định rất nghiêm ngặt, nên không có nhiều đơn vị thực hiện được. Tuy nhiên, hiện nay, đã có công ty TNHH Tuệ Linh triển khai được gần 15ha vùng trồng Cà gai leo tại xã Mỹ Thành, Mỹ Đức, Hà Nội đạt tiêu chuẩn GACP.

Vùng trồng Cà gai leo sạch đạt tiêu chuẩn GACP-WHO tại Mỹ Thành, Mỹ Đức, Hà Nội

Đây là vùng trồng được sự hỗ trợ của dự án BioTrade do Liên minh châu u tài trợ, đảm bảo các nguyên tắc an toàn, bền vững ngay từ đầu vào đến sản phẩm ra thị trường. Tất cả các khâu của quy trình được kiểm soát nghiêm ngặt từ: cây giống đảm bảo thuần chủng, không bị lai tạp và nhân giống trong nhà màng. Khi phát triển, cây được trồng với quy trình bài bản: phủ màng bảo vệ cây để không bị cỏ xâm lấn, luống cao, đất tơi xốp nhằm bảo vệ bộ rễ không ngập úng, sử dụng phân hữu cơ và đậu tương thay vì phân hóa học và thuốc bảo vệ thực vật...

“Khi thăm vùng trồng Cà gai leo tại Mỹ Đức, tôi khá thích thú và phấn khởi với một vùng trồng rộng lớn và thực hiện một cách rất bài bản. Vùng trồng cách ly với các ruộng xung quanh để không nhiễm thuốc bảo vệ thực vật. Đất, luống làm tốt để giúp cây phát triển đảm bảo hoạt chất. Dù phủ màng cho từng luống, nhưng ở vị trí trồng cà gai leo, cỏ vẫn mọc xen lẫn, cho thấy hệ sinh thái đồng ruộng ở đây được cân bằng và không sử dụng thuốc diệt cỏ. Nhìn cây cà gai leo không xanh mướt mà hơi cằn, chứng tỏ không sử dụng phân bón hóa học, đúng theo tiêu chí trồng cây dược liệu sạch để lấy hoạt chất...”, Th.S Đào Quang Trung nhấn mạnh.

Với những cây cà gai leo được chăm sóc theo tiêu chuẩn dược liệu sạch như ở đây sẽ cho hàm lượng hoạt chất glycoalkaloid cao gấp 7 lần so với quy chuẩn của dược điển.

Logo BioTrade được in trên bao bì sản phẩm giúp người dùng dễ dàng nhận biết được sản phẩm có nguồn gốc dược liệu sạch

Các sản phẩm từ nguồn nguyên liệu cà gai leo này như Giải độc gan Tuệ Linh, Cà gai leo Tuệ Linh đều được gắn logo BioTrade trên bao bì (BioTrade là nguyên tắc dược liệu sạch, bền vững, bảo tồn, bền vững, công bằng, minh bạch), giúp người tiêu dùng dễ dàng nhận biết được sản phẩm sạch, an toàn, góp phần đẩy lùi viêm gan virus và xơ gan hiệu quả.